lịch sử chùa từ hiếu huế
Năm 1559, ông được vua Lê cho trấn thủ đất Thuận Hóa, Quảng Nam. Năm 1593, Nguyễn Hoàng đem quân ra Bắc giúp họ Trịnh đánh dẹp, lập nhiều công lao. Trịnh Tùng vẫn ngầm ghen ghét, tìm cách giữ Nguyễn Hoàng lại, không cho về Thuận Hóa. Năm 1600, Nguyễn Hoàng giả cách nói đi
Tài liệu ôn thi học sinh giỏi môn lịch sử phần lịch sử việt nam từ 1858 1919. doc; 37 trang ; trận ở chùa Cây Mai, cầu Thị Nghè. (1883 - 1892) do Đinh Gia Huế, từ năm 1885 là Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo. Khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887) do Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh
Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của di tích, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Quần thể kiến trúc Cố đô Huế là di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 1272/QĐ-TTg, ngày 12/08/2009).
Năm nay, ngoài tham quan Đại Nội và các lăng tẩm vua triều Nguyễn, du khách các tỉnh đến Huế có xu hướng ghé thăm các điểm du lịch tâm linh đầu năm như chùa Thiên Mụ, chùa Từ Hiếu Đặc biệt, nhiều du khách các tỉnh miền Trung đến tham quan, viếng chùa, du lịch về trong ngày tăng cao.
TOP 15 NGÔI CHÙA NỔI TIẾNG LINH THIÊNG TẠI HUẾ didauohue NHỮNG NGÔI CHÙA LINH THIÊNG TẠI HUẾ MÀ BẠN NÊN ĐẾN DỊP ĐẦU XUÂN NÀY Ở Huế và vùng phụ cận có đến hơn 100 ngôi chùa, nổi tiếng nhất vẫn là: Linh Mụ (1601), chùa Bảo Quốc (1674), chùa Từ Đàm (1683). Cá Đọc thêm » TOP 6 BÃI BIỂN ĐẸP TẠI HUẾ didauohue
menggunakan seluruh punggung dibantu dengan lengan merupakan latihan teknik. Ẩn mình trong một rừng thông, chùa Từ Hiếu Huế là ngôi cổ tự biểu tượng của lòng hiếu thảo. Ngôi chùa nhuốm màu hoang sơ huyền bí giữa đạo và đời mà theo thời gian, cũng có lẽ vì thế mà địa điểm du lịch Huế này trở thành một trong những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của mảnh đất Cố đô. 22/12/2020 Nguồn ảnh Nếu cảm thấy mệt mỏi, áp lực với cuộc sống thì hãy làm ngay 1 chuyến du lịch Huế đến với chùa Từ Hiếu cùng hòa mình vào chốn thiên nhiên yên bình, thoải mái để quên đi những phiền muộn, âu lo bạn nhé. Chùa Từ Hiếu Huế, ngôi chùa biểu tượng cho lòng hiếu thảo Chùa Từ Hiếu không chỉ thu hút du khách tham quan bởi cảnh quan và những nét kiến trúc mang đậm chất Huế xưa, đem lại cảm giác an yên, tịnh tâm khi bước chân đến mà còn bởi câu chuyện cảm động về lòng hiếu đạo và lòng người của những người con đất Việt. Chùa Từ Hiếu ban đầu chỉ là một Thảo Am với tên gọi là am An Dưỡng do Tổ sư Nhất Định lập nên. Ngài nguyên là tăng cang của chùa Giác Hoàng trong cung, sau cáo lão về rừng để nuôi dưỡng mẹ già và tu hành thanh tịnh tại đây. Khi mẹ của ngài bệnh nặng, bỏ mặc ngoài tai những lời dèm pha của người đời là hòa thượng nhưng lại ăn mặn, ngày ngày ông vẫn tận tâm chống gậy băng rừng vượt qua 5km để tìm thịt, cá tươi về nấu cháo cho mẹ. Câu chuyện đến được tai của vua Tự Đức, vốn là người con hiếu thảo, khi biết được chuyện nhà vua liền lấy lòng cảm kích trước tấm lòng của hòa thượng Nhất Định nên ban cho “Sắc tứ Từ Hiếu tự”. Đến năm 1848, sau khi thiền sư Nhất Định viên tịch, vua Tự Đức đã cho mở rộng Thảo Am thành chùa Từ Hiếu như ngày nay. Công trình này kể từ khi mới bắt đầu xây dựng luôn được triều đình, các quan thái giám và các phật tử quan tâm giúp đỡ. Kiến trúc độc đáo của chùa Từ Hiếu Chùa Từ Hiếu Huế tọa lạc trên một khu đồi núi thấp khá bằng phẳng, phía trước cổng chùa là một khu đồi thông xanh mát, bên cạnh có một con suối nhỏ trong vắt quanh năm nước chảy. Chùa nổi bật bởi sự kết hợp hài hòa giữa lối kiến trúc cung đình Huế nhưng có phần giản dị và khung cảnh thiên nhiên thơ mộng. Điều này thể hiện rõ trong từng nét chạm khắc, trong cách đắp và trang trí gốm sứ trên các bức phù điêu với những hoa văn rồng phượng. Nét giản dị của chùa còn được thể hiện qua lối kiến trúc chữ “Khẩu” với ba gian hai chái truyền thống tạo thành tổng thể khép kín. Ngoài thờ những bức tượng Tam thế phật, Phật Thích Ca thì tại chùa còn thờ tranh. Đây cũng là nét đặc biệt khiến không gian chốn thờ tự vốn uy nghiêm trở nên gần gũi hơn. Bên cạnh đó, mỗi gian nhà thờ tự cũng như nơi ở của các vị sư tăng đều mang dáng dấp kiến trúc của những ngôi nhà rường Huế hòa mình với thiên nhiên khiến ai một lần đến đây đều cảm nhận được sự nhẹ nhàng, thư thái trong tâm hồn. Chùa Từ Hiếu Huế còn là nơi an nghỉ đặc biệt của các vị thái giám Chùa Từ Hiếu còn nổi tiếng khắp trong ngoài nước bởi nơi đây còn có một nghĩa trang độc nhất vô nhị - nơi chôn cất các quan thái giám của triều Nguyễn năm xưa. Theo như lời xưa kể rằng, Ngôi chùa Từ Hiếu được tu sửa, xây dựng nhờ vào sự giúp đỡ của một vị thái giám có tên là Châu Phước Năng, là người có số phận bất hạnh, không có người thân khi về già, ông kêu gọi các vị thái giám trong triều đình đóng góp mở rộng Thảo Am, để sau này khi chết còn có nơi thờ tự, hương khói. Vốn mang thân phận thiệt thòi, họ xem cửa Phật chính là nơi thờ tự lâu dài. Vì thế, sau này các thái giám khi chết được chôn ở một ngọn đồi nhỏ bên cạnh chùa Từ Hiếu. Nghĩa trang thái giám Ngày nay, khu nghĩa trang này nằm bên phải của chùa có diện tích gần xung quanh là những bức tường bảo vệ cao khoảng Hơn 24 ngôi mộ được chia làm ba hàng, sắp xếp từ nhỏ đến lớn theo chức vụ của quan thái giám xưa. Ở giữa có tấm bia khắc ghi công lao đóng góp của họ đối với triều đình. Điểm hành hương thu hút khách của du lịch Huế Với vẻ đẹp hài hòa giữa kiến trúc và không gian thơ mộng, ngôi cổ tự này không chỉ là chốn hành hương của các Phật tử mà còn là điểm đến thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Cứ mỗi dịp Vu Lan về, các Phật tử lại đến chùa làm lễ và cài lên áo những đóa hoa màu hồng hoặc màu trắng để thể hiện tấm lòng hiếu thảo của mình. Ít ai biết rằng đây chính là nơi thiền sư Thích Nhất Hạnh trụ trì, ngài chính là người đã đặt nền móng khai sinh ra tục lễ “bông hồng cài áo” mà đến nay đã trở thành một nét văn hóa riêng của người Việt. Theo Trần Thị Cẩm Nhi Wiki Travel
Lịch sử Các đời trụ trì Kiến trúc Hội chùa Hương [2] Chùa Hương và văn học Chú thích Hình ảnh Chùa Hương là cách nói trong dân gian, trên thực tế chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp. Trung tâm chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, nằm ven bờ phải sông Đáy. Trung tâm của cụm đền chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong. Lịch sửChùa Thiên Trù trong quần thể chùa HươngNhững ai dù chỉ một lần hành hương thăm thắng cảnh Hương Sơn, chắc chắn cũng giữ được nhiều kỷ niệm về bức tranh sơn thủy hữu tình rất đẹp, rất thơ do thiên nhiên và con người tạo dựng. Hương Sơn là một quần thể di tích và danh lam thắng cảnh nổi tiếng, bao gồm cả một hệ thống hang động, đền, chùa xen lẫn trong rừng núi hoa lá cỏ cây, nằm ở địa phận huyện Mỹ Đức, Thủ đô Hà Nội. Trải qua nhiều thế kỷ đá vẫn trơ khan cùng tuế nguyệt. Thi sĩ Tản Đà đã phác thảo bức tranh Hương Sơn;Chùa Hương trời điểm lại trời tôMột bức tranh tình trải mấy thu,Xuân lại xuân đi không dấu vếtAi về ai nhớ vẫn thơm vậy, đã bao nhiêu năm tháng trôi qua, xuân đến rồi xuân lại đi mà bức tranh Hương Sơn vẫn xuân xanh trường cửu. Đến với Hương Sơn chúng ta càng cảm nhận cái đẹp thanh tao và hương sắc đậm đà của non sông đất Việt. Dãy Hương Sơn đã bị xâm thực lâu đời của thiên nhiên, nước đã khoét núi đá thành nhiều hang động trong đó có động Hương Tích, sản phẩm đặc sắc của thiên nhiên. Theo Phật thoại thì đây là nơi lưu dấu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát tu hành đắc đạo. Bồ tát đã ứng thân thành công chúa Diệu Thiện con vua Diệu Trang Vương ở nước Hưng Lâm, tu hành 9 năm trong động Hương Tích, khi đắc đạo rồi Ngài trở về chữa bệnh cho vua cha, trừ nghịch cho nước và phổ độ quần sinh. Khi câu chuyện Phật thoại này được truyền bá ra, các thuyền sư cổ đức đã chống gậy tích tới đây nhàn du mây nước, sau đó ba vị Hòa thượng đời vua Lê Thánh Tông 1442 – 1497 đã tìm thấy động Hương Tích và dựng lên thảo am Thiên Trù. Kể từ đó Hương Tích được gọi là chùa trong, Thiên Trù gọi là chùa ngoài, rồi người ta lấy tên chung cho hai nơi và cả khu vực là chùa Hương hay “Hương Thiên Bảo Sái”. Hương Tích là dấu vết thơm tho, ý nói nơi đây đã là trụ xứ tu hành của Bồ Tát Quán Thế Âm. Còn Thiên Trù đọc theo âm Hán Việt có nghĩa là bếp trời, cái bếp khổng lồ của động đẹp nhất trời Nam. Do đó nói đi trẩy hội chùa Hương tức là đi chiêm bái cả khu vực Hương Thiên ở vùng núi Hương Sơn. Vì những ý nghĩa trên cho nên chùa Hương có sức thu hút mạnh mẽ đối với du khách trong nước và ngoài nước. Mỗi năm có hàng triệu người hành hương đến nơi đây chiêm bái Thánh tích, nếu bạn đã trẩy hội chùa Hương thì bạn có thể tự hào rằng mình đã đến đất Phật và biết thế nào là cảnh đại kỳ quan của đất nước rồi;Kể từ lúc bước lên đò ĐụcNgước mắt trông đà mãn mục vân đây, mái chèo ngư phủ sẽ dẫn lối Đào nguyên rẽ nước đưa bạn lách vào dãy non xanh trùng điệp tưởng như vô tận. Nắng xuân ấm áp chan hòa tỏa xuống suối rừng, phủ xuống người khách hành hương. Mây bạc dập dờn lướt qua những đỉnh núi xanh thẫm dưới sườn rực mầu hoa xanh phơi tấm thân thanh tịnhSuối chảy nghe xa tiếng kệ đi một quãng bạn sẽ đến đền Ngũ Nhạc, như một sơn thủy lâu đài đứng ngay bên cạnh suối. Đền thờ một vị tướng của vua Hùng Huy Vương thứ sáu tên là Hiển Quang đã có công lao đánh giặc và giúp dân trừ bạo. Sau về trí sỹ ở vùng này. Sau khi ghé vào đền Trình lễ Sơn Thần, thuyền sẽ tiếp tục đưa bạn tiến sâu vào lòng dãy núi, qua bao nhiêu kỳ sơn tú thủy để rồi “khoan mái chèo nan ghé bến tiên”, bến Trò - Thiên Trù rộn rã tấp nập, thuyền đò đậu san sát bên đến đây dừng lạiTiễn khách chèo lên cảnh thung lũng “Bếp trời” bao la, núi non hùng vĩ hiện ra trước mắt;Tiếng đâu văng vẳng chuông vàngKhói đâu ngào ngạt mùi nhang Thiên TrùTheo một số tài liệu mới tìm được thì khi xưa vua Lê Thánh Tông đi tuần thú qua đây lần thứ 2 vào tháng giêng năm Đinh hợi, niên hiệu Quang thuận thứ 8 1467 đã đóng quân nghỉ lại ở thung lũng này và cho quân lính thổi cơm ăn, vua xem thiên văn thấy vùng này lâm vào địa phận của sao Thiên Trù, một sao chủ về sự ăn uống và biến động nên nhân đấy đặt tên, rồi tiếp đến chuyến tuần du của chúa Tĩnh đô vương Trịnh Sâm vào năm Canh Dần 1770, ông đã khắc năm chữ; “Nam Thiên Đệ Nhất Động” nghĩa là động đẹp nhất trời Nam vào cửa động Hương Tích và lưu lại một số minh văn bia ký. Sau thời kỳ ba vị Hòa thượng khai sáng, chùa Hương gián đoạn trụ trì, mãi tới niên hiệu Chính Hòa năm thứ bẩy 1686 của thời vua Lê Trung Hưng. Hòa thượng Trần Đạo Viên Quang, tương truyền cũng là một quan chức trong triều đình đã treo ấn từ quan để đi tu mới lại tiếp tục công việc tạo dựng;Nội tu Hương tích bảo độngNgoại khai Phật cảnh Thiên trùRồi kể từ đó Tổ ấn trùng quang, đèn Thuyền chuyển nối, cho đến đầu thế kỷ XX thì Thiên Trù đã trở thành một lâu đài tráng lệ “biệt chiếm nhất Nam Thiên”. Chùa có trên 100 nóc, với những công trình kiến trúc quy mô tính xảo của Phật Giáo Việt Nam. Nhưng đáng tiếc thay vào ngày 11 tháng 2 năm Đinh Hợi 1947, thực dân Pháp đã vào đây đốt phá Thiên Trù thành đống gạch vụn tro tàn, năm 1948 chúng lại vào đốt phá một lần nữa và đến năm 1950 chúng lại cho máy bay thả bom khiến cho cao chất ngất mấy tòa cổ sái của Thiên Trù không còn nữa, dấu vết xưa của Thiên Trù hiện nay chỉ còn lại vườn Tháp, trong đó có Bảo Tháp Viên Công, một công trình nghệ thuật đất nung của thế kỷ thứ 17 và cây Thiên Thủy Thiên Trù ta rẽ sang bên phải lên động Tiên Sơn. Ở núi Tiên Sơn, đây là một tòa động đẹp cảnh sắc thanh u, trong động có bài thơ bút tích của Trịnh Sâm và năm pho tượng đá bạch thạch soi đèn vào trông như ngọc. Động có những nhũ đá rủ xuống thành hình Tràng phan, Bảo cái, khi gõ vào phát ra những âm thanh nghe như tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng trống, tiếng khánh, tiếng chiêng, tiếng cồng đúng như hai câu thơ cổ;Non Tiên tưởng những là Tiên thậtThủa trước Đào nguyên cũng thế chăngĐi khỏi chùa Tiên chúng ta gặp chùa Giải Oan và suối Giải Oan, bên tay trái trong chùa có am Phật Tích, có động Tuyết Quỳnh, có giếng thiên nhiên Thanh Trì trong suốt và không bao giờ cạn. Tương truyền, Đức Phật bà Quán Thế Âm đã tắm ở giếng này để tẩy bụi trần trước khi vào cõi Phật. Vẫn theo đường đá gập ghềnh tiến sâu vào phía trong, chúng ta còn gặp đền Cửa Võng, đền này thờ bà Chúa Thượng Ngàn. Tương truyền bà Chúa là người cai quản núi rừng ở khu vực Hương Sơn, đồng thời cũng là nơi của những Ngọc nữ thường xuyên mang tin tức từ chùa ngoài vào chùa trong. Thám hoa Vũ Phạm Hàm đã viết;Trèo qua một dịp Trấn SongĐây mới thực quần phong chi đệ nhấtQua khỏi đền Trấn Song, tiến thêm một đoạn nữa cửa động đẹp nhất trời Nam đã hé mở;Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệtGập ghềnh mấy lối uấn thang vào đã vén mây trông rõVạn trạng thiên hình vô như mây mà đá vẫn trơ trơTrên vách phấn lờ mờ treo giá Hương Tích là động chính của thắng cảnh, hình thế động như một con rồng lớn đang há miệng, biết bao nhiêu nhũ đá hình thù kỳ dị thể hiện những ước mơ bình dị của dân gian như đụn gạo, đụn thóc, cây tiền, cây bạc, cây vàng, núi cậu, núi cô, nong tằm nghé kén, con lợn, chuồng trâu, ao bèo, bầu sữa mẹ… Giá trị nhất trong động là pho tượng Đức Phật bà Quán Thế Âm bằng đá xanh tạc thời Tây Sơn, người tạc tượng không tuân theo những ước lệ sẵn có của quy cách tượng Phật, mà tạo nên một hình ảnh bà Chúa Ba đau đáu nỗi thương đá trong hang mãi chẳng giàTrăm năm rung động nét tài hoaMắt người chưa thấy dung nhan PhậtMà tự tay người Phật hiện thể thắng cảnh Hương Sơn còn có khu chùa, động khác ở phía nam Hương Tích như Thanh Sơn - Hương Đài, Long Vân Tuyết Sơn mỗi nơi có một vẻ đẹp độc đáo riêng biệt nếu bạn có đủ thời gian thì phải đi trọn mất ba ngày mới hết. Vinh dự cho Hương Sơn, ngày 19 tháng 5 năm 1958 Hồ Chủ Tịch đã về thăm, người căn dặn; “phải biết quý cảnh đẹp, phải trồng cây cối và mở mang quy hoạch lại cho bà con trong nước và quốc tế về đây vãn cảnh”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng hai lần về thăm cảnh vào năm 1961 và 1971, Thủ tướng cũng ân cần căn dặn; “phải xây dựng nơi đây thành công viên quốc gia” và gần đây nhất vào ngày mùng 4 tháng giêng năm Canh Thìn, tức ngày 8 tháng 2 năm 2000 chủ tịch nước Trần Đức Lương cũng đã về thăm chùa Hương với lời mong ước và căn dặn; “Ngày xuân mong đất nước ta yên bình, sự nghiệp xây dựng đất nước phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện ấm no – hạnh phúc, mong chùa Hương Tích mãi mãi là thắng cảnh nổi tiếng của nước ta, là nơi nhân dân gửi gắm tâm linh với Đạo Phật”. Để thực hiện ước mơ quy hoạch thắng cảnh Hương Sơn và xây dựng lâu đài quảng tịch ở thung lũng bếp trời, gác chuông 8 mái theo kiểu chùa Ngăm đã được dựng lên ở sân Thiên Trù vào năm Giáp tý 1984 tiếp theo ngày 4 tháng 3 năm 1989 Ban xây dựng chùa Hương đã được thành lập để thực hiện công việc quy hoạch và tôn tạo, rồi đến ngày 11 tháng 2 năm Kỷ tỵ nhằm ngày 18 tháng 3 năm 1989 ngày thực dân Pháp tàn phá Thiên Trù cách đây 42 năm về trước, lễ khởi công xây dựng Thiên Trù đã được tiến hành ngay tại nền móng của chùa cũ, cho tới hôm nay toà chính điện Thiên Trù đã sừng sững hiên ngang đứng giữa thung lũng bếp trời. Chỉ trong khoảng 20 năm với ước nguyện;Phạm vũ xưởng tân quy, Quyết trí trùng khai Tam bảo địaLầu đài y cựu chỉ, Thanh sơn biệt chiếm nhất Nam ThiênQuần thể danh lam cổ tự ở đây ngày một phong quang tú lệ trang nghiêm giữa núi rừng Hương Sơn ngút ngàn mây nước. Hàng loạt công trình kiến trúc mỹ thuật Phật Giáo đã và đang được tu bổ và tôn tạo, đặc biệt phải nói đến bảo Tháp Chân Tịnh nơi an trí kim thân cố Hòa thượng Thích Viên Thành, trưởng ban xây dựng, Trụ trì đời thứ 11 sơn môn Hương Tích, với kiến trúc Phật Giáo mang đậm sắc thái Mật giáo, đã tô bồi cho quần thể không gian di tích thắng cảnh chùa Hương một dấu ấn khó phai trong lòng nhân dân và Phật tử mỗi khi trẩy hội chùa Hương. Hy vọng không bao lâu nữa, khu vực quần thể thắng cảnh chùa Hương sẽ được khôi phục lại hoàn toàn với quy mô rộng rãi để phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng Phật Giáo và hành hương của đông đảo bà con trong nước và nước ngoài. Để nâng thắng cảnh Hương Sơn lên đúng tầm vóc và vị trí hiện nay, Bộ văn hóa thể thao và du lịch nước ta đã làm tờ trình lên ủy ban văn hóa và giáo dục của liên hiệp quốc để đưa Hương Sơn vào di sản văn hóa và thiên nhiên của nhân loại. Thật là;Hương Sơn cảnh Phật non tiênRừng xanh núi biếc lâm tuyền thanh caoThiên nhiên một thú động đàoCàng nhìn càng đẹp càng vào càng ưa. Các đời trụ trì Tổ Trần Đạo Viên Quang Chân Nhân, Thượng Lâm Viện - Tăng Lục Ty Hoà thượng, Viên Gíac Tôn giả, Nguyệt Đường Chân Lý Tổ Sư, Tăng Lục ty Hoà thựơng tự Như trí Gíac Tuệ tổ sư viên tịch 14/4 năm kỷ mùi 1499 Thiền Trưởng Trần huyền Đạo Thắng Chân Nhân Thiền tăng Đạo Nhẫn Chân Nhân Cụ Hải Dao, Phạm Đức Thắng, dòng dõi của Trần Đạo Viên Quang Chân nhân, nhận lãnh trụ trì năm 1776 Tổ Hải Viên 1764 - 1810, ngài xuất gia năm 1775, trụ trì Hương Tích từ năm 1789 - 1810 Tổ Thông Dụng Hiệu An Trụ, thích cường trực bồ tát. Maha sa môn Ngộ Tâm, tam giáo thiền sư, Trực chiến bồ tát. Maha sa môn Đồng Bạch tháp, Thông Lâm bồ tát. Maha sa môn tỳ kheo, Hương Quang tháp, Tâm Trúc - hiệu Minh Thích Hoàng thiền sư Maha sa môn Tiên Quỳnh tháp, pháp danh Thanh hữu, Thích Minh thiền sư Tiên kỳ tháp, maha sa môn, Minh Nhẫn Nhục thiền sư, Thích thanh Quyết Tiêu Quỳnh tháp, maha sa môn, Trí thích thiền sư Tổ Thích Thanh Tích thiền sư 1881- 1964, trụ trì giai đoạn 1932 - 1956 Hoà thượng Thích thanh Chân 1905 - 1989, uỷ viên Hội đồng chứng minh, phó chủ tịch hội đồng trị sự TW GHPGVN, trụ trì giai đoạn 1956 - 1985 Hoà Thượng Thích Viên Thành 1950 - 2002, tự Nguyệt Trí, Chân tịnh bảo tháp, uỷ viên thường trực HĐTS, trưởng ban trị sự PG Phú Thọ, Phó ban trị sự PG Hà tây, Phó ban từ thiện TW GHPGVN, Phó ban giáo dục tăng ni TW GHPGVN, trụ trì giai đoạn 1985 - 2002. Thựơng toạ Thích Minh Hiền, 1960 Phó ban văn hoá TW GHPGVN,Phó ban trị sự thành hội phật giáo Hà Nội 07/2017-Nay Trụ trì giai đoạn 2002 - nay Kiến trúcQuần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù tọa độ 20°37′5″B 105°44′49″Đ / 20,61806°B 105,74694°Đ. Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái. Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên tọa độ 20°36′47″B 105°44′4″Đ / 20,61306°B 105,73444°Đ. Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 Nam thiên đệ nhất động khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm 1739-1782. Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá. Ngày mồng sáu tháng giêng là khai hội. Lễ hội thường kéo dài đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Vào dịp lễ hàng triệu phật tử cùng du khách khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Hành trình về một miền đất Phật - nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu cao của lễ hội là từ rằm tháng riêng đến 18 tháng hai âm lịch. Ngày này, vốn là ngày lễ khai sơn lễ mở cửa rừng của địa phương. Đến nay nghi lễ "mở cửa rừng" hàm chứa ý nghĩa mới - mở cửa chùa. Lễ hội chùa Hưng trong phần lễ thực hiện rất đơn giản. Trước ngày mở hội một ngày, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều khói hương nghi trong chùa Trong có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ. Từ ngày mở hội cho đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các chùa trên đến gõ mõ tụng kinh chừng nửa giờ tại các chùa, miếu, đền. Còn hương khói thì không bao giờ dứt. Về phần lễ có nghiêng về "thiền". Nhưng ở chùa ngoài lại thờ các vị sơn thần thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo. Đền Cửa Vòng là "chân long linh từ” thờ bà chúa Thượng Ngàn, là người cai quản cả vùng rừng núi xung quanh với cái tên là "tì nữ tuý Hồng" của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá vậy, phần lễ là toàn thể hệ thống tín ngưỡng gần như là cả một tổng thể tôn giáo ở Việt Nam; có sự sùng bái tự nhiên, có Đạo, có Phật và có cả Nho. Trong lễ hội có rước lễ và rước văn. Người làng dinh kiệu tới nhà ông soạn văn tế, rước bản văn ra đền để chủ tế trịnh trọng đọc, điều khiển các bô lão của làng làm lễ tế rước các vị thần hội chùa Hương là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáo như bơi thuyền, leo núi và các chiếu hát chèo, hát văn … Vào những ngày tổ chức lễ hội, chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền. Nét độc đáo của hội chùa Hương là thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật. Chùa Hương và văn họcChùa Hương là nguồn gợi hứng cho nhiều tác phẩm thi ca Việt Nam, trong số đó nổi tiếng nhất có lẽ là bài hát nói "Hương Sơn phong cảnh ca" của Chu Mạnh Trinh, làm từ thế kỷ 19, xưa nay rất được ca ngợiBầu trời cảnh bụtThú Hương Sơn ao ước bấy lâu nayKìa non non, nước nước, mây mây"Đệ nhất động" hỏi rằng đây có phải!Thỏ thẻ rừng mai chim cúng tráiLững lờ khe Yến cá nghe kinh...Nhác trông lên ai khéo họa hìnhĐá ngũ sắc long lanh như gấm dệtThăm thẳm một hang lồng bóng nguyệtGập ghềnh mấy lối uốn thang mây?...và bài "Chùa hương" của Nguyễn Nhược Pháp, làm vào thế kỷ 20. Bài này đã được ít nhất 2 nhạc sĩ phổ nhạc là Trần Văn Khê và Trung ĐứcHôm qua đi chùa hươngHoa cỏ mờ hơi sươngCùng thầy me em dậyEm vấn đầu soi gương...Trong bài này ngoài những câu thơ nhí nhảnh như trên, còn có nhiều câu tả cảnh Hương sơn rất sinh động Réo rắt suối đưa quanh/Ven bờ ngọn núi xanh/Nhịp cầu xa nho nhỏ/Cảnh đẹp gần như tranh/Sau núi oản -gà-xôi/Bao nhiêu là khỉ ngồi/Đến núi con voi phục/Thấy đủ cả đầu đuôi/Chùa lấp sau rừng cây/Thuyền ta đi một ngày/Lên cửa chùa em thấy/Hơn một trăm ăn mày...Tản Đà rất mến cảnh chùa Hương, ông làm nhiều câu thơ rất đặc sắc về cảnh và tình ở đâyChùa Hương trời điểm lại trời tôMột bức tranh tình trải mấy ThuXuân lại xuân đi không dấu vếtAi về ai nhớ vẫn thơm tuôn ngòi biếc trong trong vắtĐá hỏm hang đen tối tối ấy muốn chơi còn mỏi gốiPhàm trần chưa biết, nhắn nhe còn có 1 bài thơ nổi tiếng về món đặc sản ở chùa HươngMuốn ăn rau sắng chùa HươngTiền đò ngại tốn, con đường ngại xaMình đi, ta ở lại nhàCái dưa thì khú cái cà thì văn xuôi, có bút ký Trẩy hội Chùa Hương của Phạm Quỳnh...Nữ sĩ Hồ Xuân Hương tương truyền là tác giả bài thơ vịnh động Hương Tích như sau3 Bày đặt kìa ai khéo khéo phòmNứt ra một lỗ hỏm hòm homNgười quen cõi Phật quen chân xọcKẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòmGiọt nước hữu tình rơi thánh thótCon thuyền vô trạo cúi lom khomLâm tuyền quyến cả phồn hoa lạiRõ khéo Trời già đến dở dom. Chú thích ^ "Chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông" ^ “Lễ hội chùa Hương”. ^ Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền. Nữ sĩ Việt Nam. TP HCMNhà xuất bản Văn Nghệ, 2000. Trang 279. Hình ảnh Bến Đục Bến Đục Đền Trình và núi Ngũ Nhạc Đi thuyền trên suối Yến Suối Yến Cụ bà 80 tuổi chèo đò trên suối Yến Cảnh trên đường vào chùa Tuyết Cảnh Chùa Hương Chùa Thiên Trù Chùa Thiên Trù Cáp treo lên chùa Hương Động Hương Tích Đánh cá gần chùa Hương Một tự viện bên suối Hổ Khê trong quần thể di tích Nguồn Wikipedia
Chùa Từ Hiếu Huế được khởi lập từ năm 1843, gắn liền với tấm lòng hiếu thảo của hòa thượng Nhất Định. Đồng thời đây cũng là công trình kiến trúc độc đáo, không gian yên bình hấp dẫn du khách và người dân địa phương. Với lịch sử lâu đời ngôi cổ tự này còn gắn liền với đời sống của người dân xứ Huế. Tổ đình Từ Hiếu nằm giữa khu rừng thông bát ngát, có khe nước chảy uốn quanh chùa, đem lại khung cảnh vô cùng hữu tình. Hãy cùng bài viết tìm hiểu thêm về địa điểm này nhé. Địa chỉ chùa Từ Hiếu ở đâu? Cổ tự Từ Hiếu được đặt tại thôn Dương Xuân Thượng III, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Chùa nằm sâu dưới những tán thông xanh mát, mang đến không gian thanh tịnh và yên bình thu hút du khách. Nơi đây cách trung tâm thành phố khoảng 5km và cung đường di chuyển cũng tương đối thuận lợi. Thời gian tốt nhất để đến thăm chùa Từ Hiếu là vào mùa khô tháng 3 – tháng 8 bởi vào thời gian này trời ít mưa, đường khô ráo dễ di chuyển và phù hợp với hoạt động vui chơi ngoài trời của du khách. Hoặc tháng 7 âm lịch – trùng với lễ Vu Lan báo hiệu trong văn hóa đạo Phật. Thời gian này người dân địa phương đến chùa làm lễ dâng hương và hồi hướng công đức khá đông. Cổng chùa Từ Hiếu – Nguồn tum100394 Từ trung tâm thành phố du khách có thể lựa chọn 1 trong 2 phương tiện sau để di chuyển đến chùa Từ Hiếu Huế Xe máy Thời gian di chuyển khoảng 15 -20p/chiều. Đường thẳng tương đối dễ đi và không có những khúc cua khó, du khách lại có thể chủ động về thời gian cũng như lịch trình; chi phí thuê xe khoảng – Một số địa điểm cho thuê xe máy tại Huế Cửa hàng Hạnh Thảo số 29C kiệt, 103 đường Nhật Lệ; số điện thoại 098 500 hàng Cường huế 6/3 Kiệt, số 128 đường Nguyễn Chí Thanh; số điện thoại 096 920 52 19. Taxi Thời gian di chuyển 15p/chiều; chi phí 4 chỗ/chiều. Một số hãng taxi tại Huế Taxi Mai Linh 0234 3 89 89 89Taxi Thành Công 0234 3 57 57 57Taxi Vàng 0234 3 79 79 79 Lịch sử Tổ đình Từ Hiếu Huế Dựa vào những tài liệu và ghi chép có trong sử sách thì chùa Từ Hiếu sơ khai là Thảo Am do đại sư Nhất Định lập lên. Đây không chỉ là nơi ông tu hành đạo phật mà còn là nơi dành thời gian chăm sóc mẹ già, ốm yếu. Chuyện xưa kể lại rằng mặc dù tuổi đã cao nhưng hàng ngày nhà sư vẫn chống gậy vượt đường đèo dốc để mua thịt, cá về bồi dưỡng cơ thể cho mẹ. Khi đó, người dân nhìn thấy cảnh đó thì thường xì xào, kỳ thị nhà sư mà không biết giữ đạo hạnh lại ăn mặn nhưng ông vẫn bỏ ngoài tai dành tâm sức chăm sóc mẹ già. Câu chuyện đồn xa khi đến tai vua Tự Đức thì ông đã phái người xuống điều cha và rất cảm động trước tình cảm phụ tử của sư Nhất Định nên quyết định mở rộng am thành chùa và ban tên “Sắc tứ Từ Hiếu tự”. Và sau đó người dân đã lan truyền sự tích chùa Từ Hiếu Huế một cách rộng rãi. Hình ảnh ngôi chùa ngày xưa – Nguồn valentindewissocq Trải qua 3 lần trùng tu thì chùa Tự Đức có được dáng vẻ như hiện tại Năm 1848 chùa được xây dựng với quy mô lớn hơnNăm 1894 hòa thượng Cương Kỷ trùng tu và thiết kế toàn cảnh chùa dưới sự giúp đỡ của các Phật Tử, vua Thành Thái và quan 1931 hòa thường Minh Huệ cho trùng tu và xây hồ bán 1962 hòa thượng Chơn Thiệt trùng tu và chỉnh trang lại 1971 thượng tọa Chí Niệm chỉnh sửa lại hồ bán nguyệt, cổng tam quan và một số nhà cửa xuống cấp khác. Kiến trúc chùa Từ Hiếu Huế Toàn bộ không gian chùa nằm trên một đồi thông rộng lớn nên quanh năm không khí trong lành, xanh mát và yên tĩnh không vướng bụi trần thuộc phường Xuân Thủy. Toàn bộ cảnh chùa nằm trọn trong khu rừng rộng 8 mẫu, phía trước là dòng nước suối uốn quanh mang đến khung cảnh non nước hữu tình, khiến phật tử và du khách vương vấn mỗi lần vãn cảnh chùa. Toàn cảnh ngôi chùa nhìn từ trên cao – Nguồn Ngay bên ngoài cổng tam quan của chùa Từ Hiếu Huế là tòa tháp cao ba tầng có tên tháp Bồ Đề được xây dựng từ tháng 3 năm Thành Thái thứ 6 tức 1894. Tháp được xây dựng nhằm mục đích thu nhận, lưu giữ và bảo quản sách kinh, trang tượng,… bị hư hỏng từ các am, tự hay tư gia gần xa. Công trình độc đáo này cũng là công trình có kiến trúc độc đáo và duy nhất tại Huế. Ngay phía trước tháp có bia đá hơn 130 năm tuổi ghi chép lại lý do và việc xây dựng thấp bằng chữ Nôm. Tháp Bồ Đề – Nguồn Cổng chùa Từ Hiếu Huế được xây dựng theo kiểu kiến trúc tam quan đặc trưng với hoa văn đầu rồng, thân rồng uốn lượn. Cổng được xây hai tầng 4 cột đều có câu đối được viết bằng chữ nôm và hai bức tranh tùng mai trang trí hai bên. Dưới dòng chảy thời gian cổng chùa đã từng một lần hư hỏng nhưng được trùng tư và giữ nguyên vẻ đẹp cổ kính vốn có. Bước qua cổng Tổ đình Từ Hiếu Huế là hồ bán nguyệt nước xanh ngát, nơi nhiều cây xanh soi bóng. Tiếp đó là tấm bia không chỉ gắn liền với câu chuyện của sư Nhất Định mà còn có ý nghĩa răn dậy sâu sắc với thế hệ sau. Trong đó câu nói nổi tiếng được người Huế truyền tai nhau “Từ là đức lớn của Phật, nếu không Từ thì lấy gì tiếp độ tứ sanh cứu giúp vạn loại; Hiếu là đầu hạnh của Phật, nếu không Hiếu thì lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời.” trích nguyên văn trên bia đá. Toàn bộ không gian chùa Từ Hiếu Huế lấy chữ khẩu “口” mà dựng thành theo kiểu kiến trúc đặc trưng của phật giáo Việt Nam thời đó là ba căn hai chái. Phía trước là điện thờ Phật, hai bên là lầu bia ghi lại lịch sử hình thành và tu sửa qua từng giai đoạn. Điện phía sau là Quảng Hiếu Đường, chính giữa thờ đức thánh quan, bên phải thờ các vị Thái giám triều Nguyễn và bên trái thờ hương linh phật tử tại gia. Phía sau là Tả Lạc Thiên nhà tăng và Hữu Ái Nhật nhà khách. Không gian bên trong chùa – Nguồn Internet Xung quanh Tổ đình Từ Hiếu Huế còn có nghĩa trang của 24 vị thái giám triều Nguyễn và tháp chuông lớn. Tương truyền rằng việc xây dựng chùa gắn liền với công đức của thái giám Châu Phước Năng nên khi mất các thái giám được phép chôn cất ở ngọn đồi rộng tách biệt với chùa. Tại đây có tấm bia đá kể lại mục đích xây dựng nghĩa trang và nỗi niềm buồn thương về cuộc đời không giống ai của các thái giám. Tháng 11 âm lịch hàng năm chùa Từ Hiếu sẽ tổ chức lễ hiệp kỵ lễ cúng cho vị thái giám. “Có thể bạn quân tâm! Một vài ngôi chùa nổi tiếng khác của Huế Chùa Linh Mụ, thiền viện trúc lâm Bạch Mã, chùa Từ Đàm, chùa Huyền Không Sơn Thượng,…” Quán ăn chay gần chùa Từ Hiếu Huế Quán chay tịnh tâm Không gian quán đơn giản theo kiểu không gian mở thoáng mát, bàn ghế bên trong khá đơn giản nhưng thực đơn vô cùng phong phú. Quán là địa điểm thưởng thức đồ chay quen thuộc với nhiều người dân Huế. Thực đơn món chay ở đây khá phong phú từ món mặn, món ăn vặt, lẩu,… du khách có thể dễ dàng lựa chọn được món ăn hợp khẩu vị. Địa chỉ số 54 đường Lê Ngô Cát, cách chùa Từ Hiếu 1km về phía Nam Giờ mở cửa 6h30 – 21h30 Quán chay Thiền Tâm Thực đơn món chay tại đây vô cùng phong phú, với nhiều món ăn hấp dẫn và rau xanh tươi ngon mang đến những trải nghiệm hương vị khó quên. Không gian quán khá đơn giản nhưng thái độ phục vụ tốt, niềm nở khiến du khách luôn cảm thấy dễ chịu khi dùng bữa tại đây. Địa chỉ 110A Lê Ngô Cát, Thủy Xuân, Thành phố HuếGiá – “Để có ngày du lịch đầy trọn vẹn, du khách đừng quên ghé thăm các địa điểm du lịch nổi tiếng khác của Huế như Lăng Đồng Khánh, Cung An Định, Lăng Tự Đức,…” Với những thông tin mà vừa chia sẻ hy vọng du khách đã có thể hiểu thêm về chùa Từ Hiếu Huế một trong những địa điểm du lịch văn hóa nổi tiếng trong và ngoài nước. Nếu có dịp đến Huế du khách hãy đến đây và tìm hiểu thêm về cảnh sắc nơi đây và tìm thấy một nơi yên bình tĩnh tâm sau những ngày làm việc căng thẳng. Giang Phạm Mỗi mảnh đất, mỗi con người mỗi chuyến đi luôn chập chờn trong tôi, ngay cả trong mơ. Hy vọng những kinh nghiệm từ mỗi chuyến đi của Giang có thể giúp ích cho bạn trong hành trình sắp tới.
Chùa Từ Hiếu thuộc phường Thủy Xuân, TP. Huế tỉnh Thừa Thiên – Huế. Nằm ẩn mình trong một rừng thông rộng lớn, là một ngôi chùa với lịch sử hình thành từ lâu đời, mang theo câu chuyện cảm động về tình mẫu tử từ thời xa xưa ấy. Chùa Từ Hiếu thuộc phường Thủy Xuân, TP. Huế tỉnh Thừa Thiên – Huế. Nằm ẩn mình trong một rừng thông rộng lớn, là một ngôi chùa với lịch sử hình thành từ lâu đời, mang theo câu chuyện cảm động về tình mẫu tử từ thời xa xưa ấy. Ban đầu chùa chỉ là một Thảo Am do thiền sư Nhất Định tạo lập vào năm 1843, ngài nguyên là "Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự" trong Hoàng Cung, sau cáo lão lui về ở ẩn để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già tại đây. Là người con có hiếu, tương truyền rằng có lần mẹ già ốm yếu, lâm bệnh nặng, hàng ngày ông lo thuốc thang nhưng mãi vẫn không khỏi, nên phải bồi dưỡng thịt, cá để chóng lành, hàng ngày ông phải chống gậy băng rừng vượt qua 5km để mua thịt, cá mang về cho mẹ già ăn. Người dân thiên hạ đồn đoán là hòa thượng nhưng lại phạm giới ăn mặn , bỏ ngoài tai những lời nói ấy, ông vẫn tận tâm chăm sóc mẹ già. Câu chuyện đến được tai của vua Tự Đức, vốn là người con hiếu thảo, nhà vua cho người tìm hiểu mới hay thiền sư nấu cháo cho mẹ ốm đau còn mình ngày ngày vẫn chay tịnh, một tâm tu hành. Khi biết được chuyện nhà vua liền lấy lòng cảm kích trước tấm lòng của hòa thượng Nhất Định nên ban cho “Sắc tứ Từ Hiếu tự”. Đến năm 1848, sau khi thiền sư Nhất Định viên tịch, triều đình thấu hiểu lòng hiếu thảo, đức độ của vị sư này, nên cho người mở rộng và tu sửa Thảo Am thành chùa Từ Hiếu. Nhất là các vị thái giám cúng dường tiền bạc để lo việc thờ tự sau này. Trên tấm bia tại chùa Từ Hiếu còn ghi rõ “Từ là đức lớn của Phật, nếu không Từ thì lấy gì tiếp độ tứ sanh cứu giúp vạn loại; Hiếu là đầu hạnh của Phật, nếu không Hiếu thì lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời”.Có nghĩa Từ là để dạy thiên hạ cái đạo làm cha và Hiếu để dạy thiên hạ cái đạo làm con. Ngôi chùa từ đó đã đi sâu vào lòng người không phải bằng bề dày lịch sử hay công trình tráng lệ mà nhẹ nhàng với trường ca hiếu nghĩa và độ sinh. Với câu chuyện cảm động, chùa Từ Hiếu đã trở thành một biểu tượng của chốn thiền môn về đạo hiếu trong suốt nhiều thế kỷ qua. Cũng không biết từ bao giờ ngôi chùa cũng trở thành biểu tượng cho lòng hiếu thảo của con cái đối với những bậc sinh thành. Điều đó đã thấm sâu vào đời sống văn hóa của người dân nơi đây như một nét đẹp. Cứ mỗi dịp Vu Lan về, các Phật tử lại đến chùa làm lễ và cài lên áo những đóa hoa màu hồng hoặc màu trắng để thể hiện tấm lòng hiếu thảo của mình. Ít ai biết rằng đây chính là nơi thiền sư Thích Nhất Hạnh trụ trì, ngài chính là người đã đặt nền móng khai sinh ra tục lễ “bông hồng cài áo” mà đến nay đã trở thành một nét văn hóa riêng của người Việt. Những ý nghĩa đó cũng xuất phát từ chính ngôi chùa mang tên “Từ Hiếu” này. Không chỉ gắn liền với câu chuyện cảm động về đạo hiếu, ngôi chùa là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc cổ và khung cảnh thiên nhiên của chốn nước non như lạc vào chốn bồng lai hư ảo, mang lại cảm giác thoải mái, tịnh tâm khi đến đây. Chùa Từ Hiếu nằm khuất mình giữa rừng thông bát ngát, có khe nước uốn quanh, tạo nên phong cảnh hữu tình. Lấy chữ “Khẩu” để xây thành, cấu trúc ngôi chùa theo kiểu ba gian hai chái, trước là điện thờ Phật, sau là Quảng Hiếu Đường, hai bên sân chùa có hai lầu bia để ghi lại lịch sử hình thành qua từng giai đoạn. Trước cổng chùa có ngôi tháp cao 3 tầng được xây dựng vào năm 1896 dùng làm nơi tàng trữ kinh tượng theo sắc chỉ của nhà vua. Cổng tam quan xây kiểu vòm cuốn hai tầng có mái che, phía trên thờ tượng Hộ Pháp. Vừa bước qua cổng chùa là gặp hồ bán nguyệt được trồng hoa sen và nuôi cá cảnh như cá trê, rùa,... Băng qua khoảng sân ở giữa với nhiều loại cây cảnh là dãy nhà Hậu hay còn có tên gọi khác là Quảng Hiếu Đường. Đây chính là nơi thờ Đức Thánh Quan, hương linh phật tử tại gia và các vị thái giám – những người có công xây dựng chùa,... Ngoài ra, ở đây còn có án thờ tả quân đô thống Lê Văn Duyệt cùng con ngựa gỗ và thanh đại đao của ông. Xung quanh ngôi chùa Từ Hiếu còn có khá nhiều lăng mộ các vị phi tần thời Nguyễn và tháp mộ của những danh tăng. Đặc biệt ngay sát bên phải chính điện chính là khu mộ và bảo tháp lưu giữ nhục thân của Thiền sư Nhất Định, người sáng lập nên Chùa Từ Hiếu. Đến với ngôi chùa Từ Hiếu, nhiều du khách không khỏi tò mò về một nghĩa trang nằm trong chính khuôn viên của chùa. Ít ai biết đó chính là nghĩa trang độc nhất vô nhị, là nơi an nghỉ của hơn 24 vị thái giám triều Nguyễn. Tương truyền, sau khi thiền sư Nhất Định viên tịch, Thảo Am đường được tu sửa và mở rộng thành chùa Từ Hiếu dưới sự giúp đỡ của một vị thái giám có tên là Châu Phước Năng. Ông chính là người nhận ra được số phận của các vị thái giám như mình khi về già không có người thân, không nơi nương tựa. Vì có sự đóng góp xây dựng chùa nên sau khi chết, các thái giám được chôn cất ở một ngọn đồi nhỏ nằm cạnh chùa Từ Hiếu. Vốn mang thân phận thiệt thòi, họ xem cửa Phật chính là nơi thờ tự lâu dài. Ngôi chùa này vì thế còn có tên gọi khác là “chùa Thái Giám”. Ngày nay, khu nghĩa trang này nằm bên phải của chùa có diện tích gần 1000m2, xung quanh là những bức tường bảo vệ cao khoảng 1,5m. Hơn 24 ngôi mộ được chia làm ba hàng, sắp xếp từ nhỏ đến lớn theo chức vụ của quan thái giám xưa. Ở giữa có tấm bia khắc ghi công lao đóng góp của họ đối với triều đình. Với địa thế đẹp, yên tĩnh, thoáng mát, trái ngược với cuộc sống xô bồ của chốn thành thị, nên vào các ngày nghỉ chùa đón được lượng khách lớn đến tham quan, dã ngoại. Nếu cảm thấy mệt mỏi, áp lực với cuộc sống thì chùa Từ Hiếu là nơi giúp bạn tịnh tâm, thanh thản, cùng hòa mình vào chốn thiên nhiên yên bình, thoải mái để quên đi những phiền muộn, âu lo.
Chùa Từ Hiếu From Wikipedia, the free encyclopedia Chùa Từ Hiếu hay Tổ đình Từ Hiếu là tên một ngôi chùa ở thôn Dương Xuân Thượng III, phường Thủy Xuân, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa là một trong những ngôi cổ tự lớn và là một danh lam có tính văn hóa và lịch sử của cố đô Huế. Quick facts Chùa Từ Hiếu, Tên khác, Vị trí, Quốc gia, Địa... ▼ Chùa Từ HiếuChính điện chùa Từ HiếuTên khácTổ đình Từ Hiếu 慈孝祖廷Vị tríQuốc gia Việt NamĐịa chỉthôn Dương Xuân Thượng III, phường Thủy Xuân, thành phố HuếThông tinTôn giáoPhật giáoKhởi lập1843Người sáng lậpHoà thượng Nhất ĐịnhQuản lýThượng tọa Từ ĐạoTrang webChùa Từ Hiếu trên Facebook Cổng thông tin Phật giáoxts
lịch sử chùa từ hiếu huế